Thursday , December 13 2018
Trang Chủ > Phật Giáo > Tứ Diệu Đế là gì?

Tứ Diệu Đế là gì? Giải Thích Ý Nghĩa 4 Chân Lý Trong Tứ Diệu Đế

Hiện nay giáo lý Tứ Diệu Đế là cốt lõi quan trọng nhất đã được tất cả các Tông phái công nhận như là điểm chung đồng và thuần túy nhất của đạo Phật. Thông suốt được những điểm giáo lý này có thể được xem như đã thâm nhập toàn bộ con đường giác ngộ giải thoát của Ðức Phật. Cùng tìm hiểu về tứ diệu đế là gì, kinh tứ diệu đế pdf, mp3 và các kiến thức liên quan trong bài viết này.

Tứ diệu đế là gì?

Tứ diệu đế (còn được gọi là Tứ thánh đế) là bốn chân lý cao cả, là nguồn gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích ca Mâu ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân. Thực chất đây là một phương pháp gồm cả lý thuyết và thực hành, đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát. Đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày, nếu chỉ lý thuyết chỉ là giả thuyết.

Theo truyền thống Phật giáo, Tứ diệu đế (bốn chân lý cao quý) là bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển của Đức Phật sau khi giác ngộ, được ghi trong kinh Dhammacakkappavattana Sutta (“Đàm luận về Chuyển pháp luân”). Trong bài thuyết giảng này, có bốn câu then chốt trình bày bốn chân lý cao quý, đó là:

Tứ diệu đế là gì?

  • Này các tỳ kheo, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.
  • Này các tỳ kheo, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỉ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.
  • Này các tỳ kheo, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.
  • Này các tỳ kheo, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường gồm tám thứ giúp ta chứng được Đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.

4 chân lý trong tứ diệu đế

Kinh Pali có hình thức rút ngắn khác nhau của Tứ diệu đế với mục đích giúp người đọc dễ ghi nhớ. Những bản sớm nhất của câu kinh là “dukkham samudayo nirodho magga,” có kèm theo các hậu tố sacca hoặc arya được thêm vào sau này. Câu kinh này tuy có chứa các lỗi ngữ pháp, nhưng vẫn được coi là chính xác theo truyền thống Pali, “không bao giờ sửa chữa kinh tạng”. Theo K.R. Norman, những chân đế cơ bản bao gồm:

  1. Khổ đế (Dukkha) chân lý về sự Khổ đau trên thân gồm: sinh, lão, bệnh, tử. Khổ tâm gồm: sống chung với người mình không ưa, xa lìa người thân yêu, mong muốn mà không được, chấp vào thân ngũ uẩn. Khổ đau là một hiện thực, không nên trốn chạy, không nên phớt lờ, cũng không nên cường điệu hóa. Muốn giải quyết khổ đau trước tiên phải thừa nhận nó, cố gắng phân tích nó để nhận thức nó một cách sâu sắc.
  2. Tập đế (Samudaya) chân lý về sự phát sinh của khổ: khổ đau đều có nguyên nhân thường thấy do tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ. Cần truy tìm đúng nguyên nhân sinh ra khổ, nguồn gốc sâu xa sinh ra khổ trong sinh tử luân hồi là do vô minh và ái dục, những mắt xích liên quan nằm trong 12 nhân duyên.
  3. Diệt đế (Nirodha) chân lý về diệt khổ: là trạng thái không có đau khổ, là một sự an vui giải thoát chân thật, là một hạnh phúc tuyệt vời khi chấm dứt dục vọng, và chấm dứt vô minh.
  4. Đạo đế (Magga) chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đi đến sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Phương tiện hay pháp môn để thành tựu con đường bát chi thánh đạo là 37 phẩm trợ đạo.

Kinh tứ diệu đế

Ý nghĩa tứ diệu đế

Bốn cụm từ trong Tứ diệu đế có thể được dịch từ những cụm từ gốc sau:

  1. Dukkha – “không thể chịu đựng,” “sự không thể thỏa mãn được về tự nhiên và sự không an toàn chung về tất cả những điều kiện tự nhiên”. Dukkha thường được dịch theo nghĩa không thật sự sát gốc là “chịu đựng,” vì nó đề cập đến bản chất cuối cùng là không thỏa mãn lòng người của các trạng thái tạm thời về mọi thứ, bao gồm cả sự dễ chịu (nhưng vì là tạm thời nên không thể thỏa mãn con người). Trái ngược với sukha nghĩa là “niềm vui”, từ Dukkha được một vài ngôn ngữ dịch sát nghĩa là “Khổ”.
  2. Samudaya – “gốc”, “nguồn”, “sự phát sinh”, “tồn tại”; “tổng hợp của các yếu tố cấu thành hoặc các yếu tố của bất kỳ linh hồn hay sự tồn tại”, “cụm”, “đến với nhau”, “sự kết hợp”, “nguyên nhân xảy ra”, “sự tăng lên”.
  3. Nirodha – đình chỉ; giải phóng; hạn chế; “phòng ngừa, ngăn chặn, bao bọc, kìm hãm”.
  4. Magga – “con đường”, những điều quan trọng trong phiên bản dài hơn của cụm từ này, dukkha-nirodha-Gamini Patipada, có thể được dịch như sau:
    1. Gamini: dẫn tới, chuẩn bị cho.
    2. Patipada: con đường, lối đi, phương pháp; nghĩa là cách thức đạt được mục tiêu.

Tứ diệu đế trong y học

Mô hình Tứ diệu đế có thể là một sự tương quan với y học cổ điển Ấn Độ, với chức năng như một sự chẩn đoán, và Đức Phật được biết đến như một bác sĩ:

  • Sự thật của Khổ: xác định bệnh và tính chất của bệnh (chẩn đoán).
  • Sự thật của Tập: xác định các nguyên nhân của bệnh tật (nguyên nhân).
  • Sự thật của Diệt: xác định một cách chữa bệnh (tiên lượng).
  • Sự thật của Đạo: đề xuất một cách điều trị cho các bệnh (toa thuốc).

10 (100%) 1 vote

Check Also

Vô ngã là gì?

Vô Ngã là gì?

Vô ngã là tiến trình tu tập tâm không còn chấp thủ mọi hoạt động …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *